Đăng bởi: trà hâm lại | 17.05.2011

VTV là cái gì ?

Cướp ? Cắp ? Là cái ….gì ?

VTV làm hẳn một chương trình ” tôi chỉ có lỗi, không có tội ” cho clip sex vàng anh ( nghe nói 1 phút phát sóng nhiều đồng ông cụ lắm thì phải ) … nhưng với sự việc như  sau thì … nên hiểu VTV là … gì ?

.

VTV1 đưa thông tin không đúng sự thật về hồ Ba Bể?

Cập nhật lúc :2:45 PM, 16/05/2011
Sáng nay, 16/5, Hội những người yêu hồ Ba Bể đã gửi thư đến Đài truyền hình Việt Nam để phản đối về việc VTV1 đã đưa tin không đúng sự thật về tình hình ô nhiễm hồ Ba Bể.
Nhà thơ Dương Thuấn, Chủ tịch Hội đồng hương Bắc Kạn, Tổng thư ký Hội những người yêu Ba Bể cho biết, sáng 16/5, đại diện cho Hội những người yêu Ba Bể, ông đã tận tay mang một bức thư đến Đài truyền hình Việt Nam để phản đối về việc VTV1 đã đưa tin không đúng sự thật về tình hình ô nhiễm hồ Ba Bể do khai thác quặng quanh khu vực này…Theo đó, Hội cho rằng, VTV1 đã đưa tin không đúng sự thật nên gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân và những người yêu Ba Bể ở mọi nơi, đặc biệt là người dân ở khu vực bị ảnh hưởng của việc khai thác quặng ở Pù Ổ (xã Đồng Lạc, Chợ Đồn, Bắc Kạn).

Phong cảnh Hồ Ba Bể. Ảnh: Vnmedia.

Trước hết, Hội những người yêu Ba Bể (sau đây viết tắt là Hội) cáo buộc phóng viên Quang Linh đã bất chấp các thông tin về nguyên nhân dẫn đến bồi lấp hồ Ba Bể, đưa thông tin không đúng sự thật, do đó đã phủ nhận việc khai thác tài nguyên trên các lưu vực xung quanh hồ, trong đó có mỏ sắt Pù Ổ. Hội cũng đặt câu hỏi nghi vấn về việc, trước đó, đã có hai phóng viên tác nghiệp tại khu vực Hồ Ba Bể, có quay 4 cuộn phim với rất nhiều tư liệu nhưng đã không được VTV sử dụng, mà chỉ sử dụng những thước phim của PV Quang Linh thực hiện sau đó 2 ngày.

“Chúng tôi có đầy đủ các căn cứ để chứng minh bản tin Thời sự tối 12/5 của Đài truyền hình Việt Nam đã cố tình che giấu sự thật ở mỏ sắt Pù Ổ (xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn)” – bức thư viết.

Hội cũng cho biết đang lưu giữ đầy đủ các hình ảnh đã chụp, các phim video clip đã quay về cảnh hồ Ba Bể bị bồi lấp và mỏ sắt Pù Ổ xả nước thải không qua xử lý, cùng với nhiều lá đơn kiện với 206 chữ ký đại diện cho 206 hộ dân thuộc khu vực khai thác quặng kêu cứu Hội đồng hương Bắc Kạn tại Hà Nội giúp đỡ; phiếu kết quả phân tích mẫu nước thải… Nếu Đài truyền hình ViệtNam yêu cầu có các hình ảnh và căn cứ để chứng minh thì Hội sẽ mang tất cả đến đài để chiếu và trưng bày cho mọi người cùng thấy.

“Chúng tôi cũng đã lấy mẫu nước ở đó đem về Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên của Viện khoa học và công nghệ Việt Nam phân tích, cho thấy mức độ ô nhiễm của nguồn nước rất đáng báo động. Lượng chất độc nguy hiểm gây bệnh đường tiêu hóa cao gấp bình thường 11.000 lần/100mgl; các chất thải rắn tạo bồi lắng cao hơn 6.536 lần/mgl; chất gây o xy hóa vàng nước cao gấp 222 lần/mgl… ngoài ra chưa kể đến trong nước còn một số loại tạp chất khác như dầu mỡ, quặng…” – ông Dương Thuấn cho biết.

Về thông tin VTV đưa hôm 12/5, cho rằng dư luận báo chí đã làm ảnh hưởng đến du lịch của hồ Ba Bể, Hội đã cực lực phản đối và khẳng định, từ trước đến nay vẫn thường xuyên kêu gọi báo giới quảng bá vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa dân tộc thiểu số của vùng hồ Ba Bể, để người trong nước và nước ngoài ngày càng biết đến Ba Bể nhiều hơn.

Hội cũng đồng thời khẳng định, việc khai thác tài nguyên ở Pù Ổ là hoàn toàn sai trái vì đó là khu vực rừng cấm của vùng đệm vườn quốc gia Ba Bể và đã gây ô nhiễm cho nguồn nước, gây bồi lấp hồ Ba Bể nhanh chóng. “Dù lãnh đạo cấp tỉnh hay cấp Bộ, ai đã cấp giấy cho phép khai thác cũng sẽ đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc làm thiếu trách nhiệm đó” – bức thư viết.

Cuối thư, Hội những người yêu Ba Bể đề nghị lãnh đạo Đài truyền hình Viêt Nam phải làm rõ sự việc đã nêu trên đây trong một thời gian sớm nhất.

Trước đó, chiều 26/4, Hội những người yêu Ba Bể đã tổ chức một buổi gặp gỡ báo chí để thông báo về những gì mà Hội đã thu thập được trong cuộc khảo sát các khu vực Hồ và xung quanh Hồ. Theo đó, Hội cho rằng, việc khai thác quặng tại khu vực này đã đang đe doạ đến môi trường và gây nguy cơ bồi lấp hoàn toàn hồ Ba Bể trong tương lai. Đoàn khảo sát này bao gồm GSTS Phạm Vĩnh Cư – Chủ tịch Hội những người yêu Ba Bể; Nhà thơ Dương Thuấn – Tổng thư ký Hội những người yêu Ba Bể; GSTS Chu Hảo – Nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ – Tổng biên tập NXB Tri Thức; GSTS Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường; TS. Trương Văn Lã – GĐ Trung tâm phát triển Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường – ông là người Tày đã từng nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, quê ở ngay Pù Ổ; nhà báo Đỗ Doãn Hoàng – Báo Lao Động; ông Nguyễn Quang Huân – TGĐ Công ty cổ phần Phát triển hạ tầng Thăng Long cùng các đại diện Quỹ tiền tệ thế giới IMF.

Tuy nhiên, bản tin thời sự của VTV1 tối 12/5 đã phát đi phóng sự của PV Quang Linh, cho rằng những cáo buộc của Hội là sai sự thật và việc khai thác quặng không hề ảnh hưởng đến môi trường hồ Ba Bể.

Theo Vnmedia
.

‘Người đàn bà viết văn ở Đèo Ngang’ đòi kiện VTV tới cùng

Tác giả: Đan Hoàng

Đói, rét, nghèo, cô độc, con nhỏ… Ngay cả một người bạn để tâm sự sẻ chia cũng không có. Người góa phụ sống bằng nghề bán cá ở chân Đèo Ngang trút cả vào trang viết. “Nếu không đầu óc tôi sẽ nổ tung”.

Khách lạ ở VietNamNet

Đầu giờ sáng, một giọng nói oang oang phía ngoài cửa tòa soạn khiến toàn thể biên tập viên, phóng viên của báo phải ngửng lên nhìn. Người đàn bà trông dáng vẻ lam lũ quê  mùa, hai bên vai khệ nệ mang vác hai bao tải, tóc bết mồ hôi xuống khuôn mặt xạm đen đứng giữa cửa. Không giảm âm lượng khi bước vào phòng, chị nói: tôi muốn tìm phóng viên.

“Báo cáo các anh chị, tôi là người đàn bà nghèo viết văn ở chân Đèo Ngang. Tôi lặn lội từ Quảng Bình ra đây mong muốn được gặp các anh chị”  “Ồ… người đàn bà bán cá, bắt ốc và viết văn dưới chân Đèo Ngang, tôi đã nghe nhiều và cũng đã đọc vài tác phẩm của chị”. Một biên tập viên hồ hởi.

Vẫn tiếp tục làm điếc tai cả phòng, người phụ nữ hạ hai chiếc bao tải xuống, hào hứng lôi ra những tập sách, truyện ngắn và và mời gọi mọi người đến để chị tặng sách; vừa oang oang giới thiệu: “Cuộc đời tôi viết đến bao cuốn sách cũng chẳng hết, chuyện này tôi viết trong cuốn này, vụ này tôi đúc kết lại trong chuyện kia…”

Bao tải còn lại có những túi lạc củ mà chị nói ‘quà quê từ Quảng Bình’ mang ra cho. Sách kèm lạc.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về chị, nhà văn chân đất Đậu Nữ Vệ như thế. Chị tìm đến với chúng tôi về vụ kiện tụng xung quanh quyền tác giả của chị về một kịch bản phim truyền hình. Thực ra vụ việc không mới, kéo dài đã 5 -6 năm. Bản thân chị và đối tượng kiện tụng: Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam (VFC) đã từng ngồi làm việc ở những cơ quan chức năng, chị đã đưa đơn kiện ra tòa án với ’29 lần ra Hà Nội, ăn chực nằm chờ ở các vườn hoa công viên để chờ gặp thẩm phán’ như chị nói, nhưng xem ra vụ việc lùng nhùng chẳng ai biết đến hồi nào kết thúc. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay một thời gian đã ồn ào trên báo chí.

Xen giữa những trình bày gấp gáp, lủng củng của người phụ nữ, điều làm cho tôi tò mò hơn cả là cuộc đời người đàn bà bán cá viết văn đã từng làm bao người cầm bút xúc động này.

Nhà văn Đậu Nữ Vệ. Ảnh: Đan Hoàng

“Nếu không viết được ra, chắc tôi phát điên”

Người đàn bà này có thể coi là điển hình của những thân phận phụ nữ bất hạnh, đâu đó vẫn gặp ở những vùng quê nghèo với một motip khá phổ biến: Năm 1965, Mỹ bắn phá dữ dội vào Lạch Roòn, Đậu Nữ Vệ 10 tuổi bỏ học theo cha làm giao liên chuyên chở bộ đội và vũ khí qua cửa sông Loan. 7 năm làm giao liên, hai lần hai cha con được làm lễ truy điệu sống.

Mối tình đầu không đến được tới đích, một cuộc hôn nhân không hạnh phúc cùng người chồng ốm yếu vì ảnh hưởng chất độc màu da cam, và những đứa con thừa hưởng chất độc ấy. Những thước phim cuộc đời vừa bi tráng, vừa đau khổ nhưng không kém lãng mạn ấy sau này lại chính là chất liệu để người đàn bà ấy – khi bị dồn vào những giây phút bĩ cực nhất cuộc đời – hồi tưởng lại để vừa xót xa, vừa an ủi viết.

Sống với nhau được 9 năm, người chồng mất. Đậu Nữ Vệ khi ấy là y tá trình độ sơ cấp của Bệnh viện Hà Lan (Quảng Trị) buộc phải về hưu non, ôm hai con thơ ra chân Đèo Ngang dựng lều ở, mẹ con bán cá, bắt ốc đắp đổi qua ngày.

Lúc đó là năm 1993, Đèo Ngang còn hoang vu lắm, cả đoạn đường dài chỉ có mỗi ba mẹ con tôi, vắng vẻ hiu hắt, buồn rợn người“, bà Vệ nhớ lại, vẫn giọng nói oang oang ngay cả khi kể về những ngày tháng cùng cực.

Đói, rét, nghèo, cô độc, con nhỏ… Ngay cả một người bạn để tâm sự sẻ chia cũng không có, và bà viết. “Nếu không đầu óc tôi sẽ nổ tung“. Bà viết ra bất cứ điều gì có trong đầu, những buồn vui ngày thường, những câu chuyện bà lượm lặt … hay những thống khổ không thể chia sẻ với ai.

Những tác phẩm cạa nhà văn Đậu Nữ Vệ. Ảnh: Đan Hoàng

Ngay bên hai thúng cá tanh nồng đầy ruồi nhặng, hay đang xắn quần bắt ốc, nấu cơm.., lúc nào bà cũng có bút trong người. Khi một dòng văn thoáng chạy qua đầu, bà viết ra ngay vào bất kỳ đâu: bờ tường, sườn thúng,  lòng bàn tay, thậm chí kéo quần lên viết vào đùi hay bắp chân; để rồi đêm về lại cặm cụi chắp vá xâu chuỗi những câu chữ vụn vặt thành tác phẩm.

Thuyền tình ngược bến – tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Đậu Nữ Vệ về một cô gái có mối tình đẹp nhưng rồi dang dở, sau đó bị làm nhục và phải kết hôn với người mình không yêu… Câu chuyện thấm nước mắt tác giả qua những câu chữ khiến bao độc giả xúc động. Những lá thư động viên chia sẻ gửi về túp lều xác xơ bốn bề lộng gió ở chân Đèo Ngang đã tiếp thêm nghị lực sống cho người đàn bà cô độc nghèo khổ.

Bà Vệ kể, qua bao đêm ngày cặm cụi, tác phẩm đầu tay cũng dần hình thành, chắp ghép từ các mảnh giấy học trò. Bà Vệ ôm tập bản thảo đến Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Quảng Trị. Dựng chiếc xe đạp ruồi bâu và đôi sọt vẫn tanh mùi cá vào một góc sân, bà túm lấy một người đàn ông (sau này mới biết là ông Nguyễn Hữu Cử ở Tạo chí Cửa Việt) tha thiết: “Anh ơi cho em hỏi, em có một tiểu thuyết, muốn gởi thì gởi cho ai?” “Tiểu thuyết gì? Cô ở đâu, làm gì mà viết tiểu thuyết?” “Em làm y tá ở Bệnh viện Hà Lan“.

Người đàn ông hết nhìn thúng cá và chiếc xe đạp, lại nhìn người đàn bà quần ống thấp ông cao, tất tưởi trước mặt ông hỏi lại: “Tiểu thuyết hay tiểu phẩm?” “Dạ, tiểu thuyết“. “Cô học trường viết văn nào?” “Em học… chỉ nửa lớp 4“.

Trước sự tha thiết của người đàn bà, thêm những người tò mò xúm lại nhìn ngó, ông Cử miễn cưỡng nhận lời đọc tập bản thảo. Đúng hẹn, 10 ngày sau ông Cử hồ hởi thông báo bản thảo của bà có thể in được, nhưng tác giả phải trả 400 nghìn công biên tập. Số tiền quá lớn vào thời điểm đó (1992), đặc biệt với góa phụ đơn độc.

Vét hết vốn liếng được 200 nghìn đồng đem nộp trước. Chị vào bệnh viện gánh nước thuê, chạy vạy thêm được 200 ngàn nữa trả cho người biên tập. Biên tập xong đến đánh máy, xin giấy phép thêm 340 nghìn nữa, người đàn bà gồng mình lên chạy vạy xuôi ngược với niềm hy vọng tràn trề. Nhưng… “cần 6 triệu đồng in ấn”. Nhà văn bán cá bật khóc.

Ghét nhất bọn “xin lửa”

Trở lại quãng đời người đàn bà góa dắt con nhỏ ra Đèo Ngang dựng lều. Đói, rét, cô độc vẫn chưa phải là nỗi niềm lớn nhất mà “sợ và ghét nhất là bọn xin lửa”. Hiểu sự ngơ ngác của người nghe, chị vội giải thích: thì một thân đàn bà sống giữa nơi hoang vắng, nhà thủng tứ bề, lại bên cạnh đường, sao tránh được những con mắt dòm ngó.

Ảnh: Đan Hoàng

Từ sáng trưa hay nửa đêm, căn lều lúc nào cũng có người tìm đến “xin lửa”. Từ gã tài xế đường dài đỗ xe lại, ông buôn gà chở hàng đi qua, đến những người có gia đình vợ con gần đó cũng qua lại ỡm ờ. “Có lúc tức quá, mình để cả bao diêm sẵn đó, ai thích hút thuốc lấy lửa cứ tự lấy. Nhưng họ lại đút túi luôn cả diêm, rồi lại quay lại “xin lửa”. Một ngày lên xuống châm lửa cả chục lần“.

Ỡm ờ không được, ngọt nhạt không xong, cợt nhả thô lỗ không đạt được mục đích, những gã đàn ông hiện nguyên hình là các con thú đực bỉ ổi. Chúng giật tung vách liếp, ném gạch đá vào căn lều vốn đã xác xơ; thậm chí đổ phân và rác rưởi xuống giếng nước của người phụ nữ và hai đứa trẻ. Dù đã đi qua chiến tranh và mọi giông gió cuộc đời, nhưng người đàn bà ấy vẫn không thể cầm được những giọt nước mắt đau hận.

Và viết…

Giữa những ong ve bướm lượn, một người đàn ông phần nào hiểu được gia cảnh và nỗi khổ của người góa phụ, trân trọng những trang giấy của chị. Ông đồng ý cho chị vay 5 triệu đồng để in ấn, với điều kiện: vợ ông đang ốm sắp mất, sau khi vợ qua đời, người đàn bà góa sẽ là vợ ông.

Chết đuối vớ được cọc, góa phụ nhận lời. Tiểu thuyết đầu tay cuối cùng cũng được ra đời, người đàn bà bán cá khóc như mưa. Thuyền tình ngược bến của chị xuôi đến độc giả, mang đến bao sự động viên cho chị, cùng một số tiền kha khá để chị trang trải. Nhưng hợp đồng tình yêu của chị lại rẽ sang hướng khác, người vợ khỏe mạnh lại, chị trả lại 5 triệu đồng, rẽ cuộc đời sang trang khác.

Nhà biên kịch nhảy dù và ‘ân oán’ nghệ thuật

Có được sự mở đầu suôn sẻ, người đàn bà bán cá tiếp tục viết. Chị viết khỏe, liên tục, đầy tự tin xông vào đủ thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, truyện cười, thơ… Tính đến nay nhà văn đặc biệt này đã cho ra đời 8 cuốn sách. Những câu chữ vẫn phảng phất mùi tanh của cá, mùi mồ hôi cay mặn, những ngôn từ hay mẩu chuyện nơi bến cá, góc chợ; xồng xộc nồng nồng mùi vị cuộc sống. Như một nhà phê bình nhận xét: tác giả để nguyên quần xắn móng lợn, xông thẳng vào văn chương.

Cuộc sống ổn định dần, nơi chị sống có điện. Ba mẹ con cũng dành dụm được tiền mua tivi xem. Những lúc rảnh ngồi xem phim truyền hình, bà bán cá chép miệng: truyện phim thế này mình hoàn toàn viết được. Và chị viết thật…

Một lần, thấy thiếu tướng Phạm Hồng Thanh- Cục trưởng Cục Tư tưởng Văn hoá – Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng (nay là trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị – Bộ Quốc phòng) phát biểu trên tivi ‘bằng giọng Quảng Bình’. Chị đánh liều gửi kịch bản tới chỗ ông đọc.

Thật bất ngờ, vài tháng sau, chị nhận được giấy mời tham gia Trại sáng tác Quân đội tại Đồ Sơn – Hải Phòng. Bán tivi và chiếc máy bơm nước, hai tài sản giá trị nhất trong nhà, chị hồ hởi lên đường.

Hàng ngày bằng cách hỏi han tiếp xúc, xem cách viết của các nhà biên kịch chuyên nghiệp, như cách dùng từ của chị: “ăn cắp” nghề. Chị loay hoay viết, ‘bỏ qua giai đoạn kịch bản văn học, viết thẳng kịch bản truyền hình’.

Chính ở đây, chị gặp được những nhà văn, nhà biên kịch sau này chắp mối lương duyên cho chị đến với Trung tâm sản xuất phim truyền hình.

Năm 2006, VTV chiếu bộ phim “Miền quê thức tỉnh” (kịch bản phim gốc của Đậu Nữ Vệ là “Điều không thể mất”) dài 18 tập. Sau bao nhiêu bươn chải vật lộn, người đàn bà bán cá mừng rơi nước mắt đón chờ tác phẩm của mình. Nhưng khi xem phần giới thiệu, tác giả kịch bản lại là… tên khác, Bùi Vệ Nữ. Chị khóc.

Đạo diễn Khải Hưng khi đó vẫn là Giám đốc của VFC gửi công văn vào Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình xin lỗi tác giả. Đại diện VFC và nhà văn Đậu Nữ Vệ cũng đã cùng nhau lên Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch làm việc, nhưng vụ việc cũng chẳng đi đến đâu.

Chỉ những người trong hoàn cảnh mình, có khổ sở sôi từng giọt nước mắt, dày vò mấy tháng trời mới ra được một tập kịch bản, mới hiểu hết sự thất vọng của tôi, và biết vì sao tôi phải kiện“, vẫn cái giọng oang oang, cười đấy mà buồn được ngay.

Giới văn đàn đưa ra nhiều bình luận, người bênh vực bà bán cá kiên trì; kẻ chép miệng thương những nhà biên kịch VFC ‘làm ơn mắc oán’. Những người đã có lúc vừa xót xa vừa cảm phục người đàn bà vươn lên số phận, đã cùng chăm chút những dòng kịch bản đầu tiên cho chị, sau đó thành ‘bên bị’ trong vụ kiện tụng kéo dài.

Nếu trước đây chính sự chất phác của bà nông dân bán cá kéo những đôi tay đến, bây giờ cũng lại chính sự chất phác ấy mang phiền phức đến cho chị. Những phát ngôn kiểu “tôi sẵn sàng bán cả cái Đèo Ngang để theo kiện” khiến nhiều người vừa thương vừa e ngại nhà văn bán cá.

Sau khi oang oang ở VietNamNet hồi lâu, chị lại ôm hai bao tải sách và lạc lên xe ôm “đến nhiều nơi khác”, không quên dặn đi dặn lại: Tối nay tôi sẽ mua mảnh chiếu ngủ ở bụi tre trước cửa Tòa án Nhân dân Quận Ba Đình để gặp bằng được chánh án. Các anh chị cần gặp tôi cứ ra đó.

Đêm ấy, vừa đọc mấy cuốn sách của chị, vừa lắng nghe bên ngoài mưa rơi như trút, tôi tự nhủ người đàn bà đang ngủ ngoài bụi tre thế nào. Sáng hôm sau gọi điện hỏi thăm, chị bảo: ướt một chút thôi. Rất thành tâm, tôi khuyên: hay chị bỏ cuộc đi, kiện tụng thế này biết đi đến đâu, đã nghèo lại thêm khổ, để thời gian và công sức đó viết tác phẩm khác.

Chị giãy nảy: không! chị không bỏ cuộc đâu.

Buổi chiều trước khi lên xe về Quảng Bình, chị gọi điện chào, tôi nhắc lại lời khuyên.

Chị trịnh trọng tuyên bố: Chị không bỏ cuộc, chị sẽ kiện VTV tới cùng!

(nguồn)


Responses

  1. Thưa bác Trà,
    Tin tức, phóng sự, sách vở vv… chịu tác động của phong bao dù tốt vẫn xấu
    (Phát triển từ slogan blog trà hâm lại)

    ĐT

    • Hihihi, bác DT chơi chữ kìa. Ấy là anh em mình quan điểm cần thiết phải sự thật cho dù nó lỡ có xấu , phải nhìn thẳng vào sự thật mà bước đi. Một nửa cái bánh mì thì là bánh mì nhưng một nửa sự thật nó không phải sự thật.
      Thật ghê tởm , chúng ăn còm cõi của Đậu tỷ tỷ từng con chữ,… ôi, gầm trời nào đây ????

  2. Em đã vài lần qua lại đèo Ngang, từng nhiều lần thẫn thờ nhìn những túp lều tranh co ro hiu hắt bên vệ đường; đọc đoạn “xin lửa” mà muốn rơi nước mắt… Em rất muốn có địa chỉ của chị Đậu Nữ Vệ.

    • Lão đệ liên hệ với vietnamnet xem sao, dân văn chương nghé qua là đồng cảm liền hè ?
      Nhưng qua đó thấy rõ bộ mặt ghệ tởm của bọn chúng. Đến con chữ mà chúng cũng làm tiền….

      • Ghê thật!một cơ quan văn hóa mà hành vi phi văn hóa quá!

        • Người bán rong có mấy câu chữ , chưa biết kinh doanh chữ nên bị tụi đồ tể cướp mất …

  3. Kiện VTV ư ?
    Ai là người xử kiện ?
    Kiện mà biết chắc chắn là mình không bao giờ thắng thì kiện để làm gì.Tốt nhất là chị ấy nên nhờ những người có lương tâm và có điều kiện lên tiếng giùm cho công luận biết.
    Như thế vừa đỡ lãng phí vừa có nhiều người biết được sự thật hơn.

  4. Ơ thế cái chiện chị Đậu là có thật à bác? Sao nhà văn này không đưa hết lên blog nhỉ??? Gia cảnh bi giờ thế nào tội nghiệp quá? hay là cũng không có nỗi tiền để mà mua máy tính nữa chứ ! Bac Tra hãy làm phóng sự vầ nhà văn này tiếp đi nha . Nhân tài VN đấy, chời ơi.

    • bác thấy cảnh phải ” cúng ” cho ông kia 4oo K ông cụ chỉ để ông ta biện tập thôi cũng đủ nói lên nhiều điều,…Chúng nó ăn cả giẻ rách !

  5. Chào bác Trà Hâm, tôi có xem đoạn phóng sự nói về Hồ Ba bể, xem xong không biết diễn tả tâm trạng thế nào, chỉ biết nói rằng: Nếu lấy “bao cao su đã qua sử dụng” làm đơn vị đo sự bỉ ổi, vụ Cù tiến sỹ là 2 bao cao su thì vụ Hồ Ba Bể này chắc cũng gần được 1 “bao cao su đã qua sử dụng”!

    • bác ạ, hình như ” hội chứng bao co su đã qua sử dụng ” đã thành bệnh xã hội hay sao ý ?

  6. Nghe cứ như thể VTV là đài tư nhân, phát trên núi ấy nhể.

  7. VTV là phù thủy. Họ có thể làm không thành có và có thành không. Họ cũng như bao người có chức quyền, đang cố làm mất thể diện quốc gia.

  8. […] VTV là cái gì ? « trà hâm lại […]

  9. Lâu ngày nay mới vớ được con tem nhà anh Trà, mà con tem này hơi bị đắt giá.
    Cơ quan ngôn luận mà đưa tin sai sự thật thì tai hại quá. Sai một ly đi một dặm mà.

    • Đúng đó HB à, mọi người dân đều tin vào những gì ngôn luận chính thống nói, kể cả quảng cáo bậy họ cũng cứ tin , vậy mới đáng sợ.

      • Em hy vọng lần này họ không để sự việc đi quá xa như sự việc Lượn thật, Lượm giả mới đây trong chương trình Người xây tổ ấm.

        • Sự việc này bung ra mới thấy ghê tởm O à, người ta làm hẳn một chương trình ” tôi chỉ có lỗi, khộng có tội ” cho vụ clip sex vàng anh. Còn những tâm hồn trong sạch phục vụ cho đông đảo nhân dân thìthế này đây !

  10. Ha ha ha. Tem rồi.

    • Bóc tem chứ ?

      • Em bóc rồi, đã niêm phong để sau này cho vào bộ sưu tập đưa đi đấu giá.

        P/s: Anh vẫn chưa vào phần giới thiệu ở nhà em kìa😦


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: